Vật tư thiết bị công nghiệp

Máy móc sản xuất cao su khoanh

Máy trộn Banbury, để trộn cao su với các thành phần khác, được phát minh vào năm 1916 bởi Fernely H. Banbury (1881-1963). Ngành BƯU điện Mỹ là người tiêu thụ khoanh cao su nhiều nhất thế giới, mỗi năm có đến hàng triệu kilogram khoanh cao su được sử dụng để phân loại và giao các chổng thư. Latex (mủ cao su) được tìm thấy trong các mạch giữa lớp vỏ ngoài và tầng phát sinh gỗ (nơi nhựa[…]

Kiểm tra chất lượng cao su khoanh tự nhiên

Khoanh cao su làm mẫu thử từ mỗi mô chầtlượng được kiểm tra chất lượng theo nhiều cách. Một cách thử là đo môđun đàn hồi, tiíi khoanh sẽ bật trở lại mạnh thư thế nào. Một khoanli căng khi kéo phải bật trở lại mạnh mẽ, trong khi khoanli được làm ra để giữ an toàn cho các vật dễ vỡ phải bí rở lại nhẹ hơn. Một cách thử nữa là kéo giãn dài, tld xác định khoanh[…]

Vật liệu và quá trình sản xuất cao su khoanh

Mặc dù 75% các sản phẩm cao su ngày khoanh nay được làm từ cao su tổng hợp, một phương pháp hoàn thiện cao su ra đời trong Thế chiến thứ hai, nhưng các khoanh cao su vẫn được làm từ cao su tự nhiên bởi vì nó tạo được tính đàn hồi cao hơn. Cao su tự nhiên bắt nguồn từ latex, một chất lỏng trắng giống như sữa chủ yếu gồm nước với một lượng nhỏ cao su[…]

Phương pháp tinh chế cao su tự nhiên

Nhà phát minh người Mỹ Charles Goodyear radơl thí nghiệm với các phương pháp tinh chế cao su tự nhiên trong gần mười năm1 trước khi tình cờ may mắn xảy ra. Vào một ngày nọ của năm 1839, Goodyear tình cờ để lại một mảnh cao su thỏ trên mặt lò ấm cùng với một ít lưu huỳnh và chì. Khi phát hiện “sơ suất” của mình, Goodyear nhận ra rằnj: cao su giờ đây có một độ đặc[…]

Kỹ thuật đánh giá lốp xe

Một sô kỹ thuật đánh giá không phá hủy cũng được sử dụng trong kiểm tra chất lượng lốp. Đồ họa video tia X cung cấp hình ảnh nhanh và chi tiết trong một lốp. Trong kỹ thuật thử bằng tia X, một lốp được chọn ngẫu nhiên và đưa vào buồng bức xạ để được chiếu tia X. Kỹ thuật viên quan sát ảnh trên màn hình video, ở đó các khuyết tật dễ dàng bị phát hiện. Nếu[…]

Kiểm tra đánh giá chất lượng lốp xe

Kiểm tra Kiểm tra chất lượng bắt đầu với các nhà Chết mạng cung cấp nguyên liệu. Các nhà sản xuất tìm kiếm các nhà cung cấp, là người thử nguyên liệu trước khi nó được giao đến nhà máy. Một nhà sản xuất sẽ thường ký hợp đồng với các nhà cung cấp nào đưa ra giấy chứng nhận chi tiết về các tính chất và thành phần của nguyên liệu. Để đảm bảo chứng nhận của các nhà[…]

Quy trình sản xuất lốp xe ô tô mà bạn cần biết

Quátrìnll Một lốp ôtô con được sản xuất bằng cách sanxuat bọc nhiều lớp cao su được lập công thức đặc biệt xung quanh một trống kim loại trong máy tạo hình lốp. Các bộ phận khác nhau của lốp được mang đến máy tạo hình, ở đó công nhân lắp ráp cắt và đặt vào vị trí các dải cao su để tạo thành cái gọi là “lốp tươi”. Khi một lốp tươi được hoàn thành, trcíng kim loại[…]

Nguyên tắc thiết kế lốp ô tô

Các đặc điểm chính của lốp ôtô con là talông, thân với hai vách bên, và các mép lốp. Talông là các đường nhô lên sẽ tiếp xúc với mặt đường. Thân chống đỡ talông và tạo cho lốp có được hình dạng của nó. Các mép lốp là các bó dây kim loại được bọc cao su, giữ lốp vào bánh xe. Ngày nay, máy vi tính giữ vai trò quan trọng trong thiết kế lốp. Phần mềm phân[…]

Vật liệu sản xuất lốp xe cao su chất lượng cao

Năm 1839, người Mỹ Charles Goodyear tình cờ khám phá ra quá trình làm tăng bền cao su, được biết dưới tên gọi sự lưu hóa. Õng đã làm thí nghiệm với cao su từ năm 1830, nhưng không thể phát triển một quá trình xử lý thích hợp. Trong một thí nghiệm với hỗn hợp cao su An Độ và lưu huỳnh, Goodyear đánh rơi hỗn hợp lên lò nóng. Một phản ứng hóa học xảy ra, và thay[…]

Sản xuất lốp xe từ cao su thiên nhiên

Lốp là vỏ bọc bằng cao su gắn vào vành bánh xe. Lốp tạo ra độ bám bề mặt cho lực kéo và có tác dụng như một tấm đệm cho các bánh xe của một cỗ xe chuyển động. Lốp được tìm thấy ở nhiều phương tiện di chuyển, từ xe đạp, xe máy, cho đến ôtô, xe tải, xe thi công trên công trường, máy bay, vân vân. Lôp dùng cho phần lớn các loại xe là có[…]

Nỉ cách nhiệt

Nỉ cách nhiệt trên cơ sở bông khoáng gồm có một số loại sau đây. Ni khâu dùng để bảo vệ nhiệt cho các kết cấu bao che của nhà, các thiết bị công nghiệp và đường ống dẫn có nhiệt độ I nhỏ hơn 400°c. Loại nỉ này được chế tạo như sau : Băng chuyển chuyển bông từ buổng lắng sợi sang buồng làm lạnh, ở đđ tấm thảm bông khoáng được ép đến chiêu dày cho trước,[…]

Sản xuất vật liệu cách nhiệt

Việc sản xuất và nâng cao chất lượng VLCN có liên quan chật chẽ với quá trình phát triển của công nghiệp hiện đại. Iliện nay người ta đã sản xuất được hơn 25 loại sản phẩm cách nhiệt. Trong đó vật liệu và sản phẩm trên cơ sở nguyên liệu khoáng, xỉ, thủy tinh và amiăng đóng vai trò quan trọng. Bông khoáng và sản phẩm từ bông khoáng Bông khoáng là VLCN bao gốm khối sợi dạng thủy[…]

Cấu trúc chất kết dính

Trong bitum quánh và cứng, mixen chiếm tỉ lệ rất lớn. Còn trong bitum lỏng chúng chiếm một tỉ lệ nhỏ đến nỗi không có tương tác gì với nhau nên cđ thể chuyển động tự do trong chất dấu. Đối với guđrông than đá : pha phân tán là cacbon tự do, môi trường phân tán là chất dầu, còn chất nhựa đóng vai trò là chất hoạt tính. Quan hệ giữa hàm lượng và cấu tạo của các[…]

Tính thấm ướt vật liệu khoáng

Tính thăm ướt vật liệu khoáng. Tính thấm ướt vật liệu khoáng của chất kết dính phụ thuộc vào lượng các chất hoạt tính bể mặt có cực và tính chất của vật liệu khoáng. Tính thấm ướt được đặc trưng bàng góc thấm ướt. Đó là góc giữa bé mặt vật liệu khoáng và tiếp tuyến với bề mặt giọt chất kết dính tại ranh giới tiếp xúc với vật liệu. Nếu góc thấm ướt càng nhọn tính thấm[…]

Độ phân cực của chất kết dính

Độ phârt cực. Độ phân cực đặc trưng bằng các tính chất vật lí khác nhau như : sức căng bể mặt, sự thấm ướt nhựa, tính dẫn điện, v.v… Độ phân cực a được biểu thị bằng ti lệ giữa độ hòa tan của chất kết dính hữu cơ trong dung môi là chất phân cực và chất không phân cực : trong đđ : A – độ hòa tan của bitum và guđơrông trong rượu mêtilic, % ;[…]

Cấu tạo chất kết dính hữu cơ

- Nhũ tương bitum và guđrông : Là một hệ thống keo bao gổm các hạt chất kết dính phân tán trong môi trường nước vA chất nhũ hóa. Chất kết dính hữu cơ (bitum và guđrông) là một tập hợp của các hợp chất hiđrocacbon khác nhau về cấu tạo (thơm CnH2n_6, naftalen CnH2n, metan CnH2n+2 và các hợp chất phi kim loại của chúng). Cacbon có hđa trị 4 tạo nên những liên kết cacbon tronn các mạch[…]

Chất kết dính hữu cơ

Những loại vật liệu như bitum, guđơrông, nhũ tương, nhựa màu là các chất kết dính hữu cơ. Chúng cổ thể ở dạng cứng, (ịuánh, lỏng (thành phẩn chủ yếu là hiđrôcácbon cao phân tử và một số hợp chất khác), có khả năng trộn lẫn và dính kết các vật liệu khoáng, tạo thành vật liệu đá nhân tạo có những tinh chất vật lí, cơ học phù hợp để xây dựng đường ôtô. Các chất kết dính hữu[…]

Phân loại chất dẻo

Chất dẻo là tên gọi của một nhđm vật liệu hữu cơ (nhân tạo hoặc thiên nhiên), mà các cao phân tử – polime – là thành phần chính của nó, có khà năng tạo hỉnh dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất và sau vẫn giữ nguyên được hĩnh dạng đó. Thành phần của chất dẻo như sau : chãt kết dính (polime), chất độn (bột vô cơ hoặc hữu cơ, sợi, vải, vẩy), chất hóa dểo[…]

Phân loại chất dẻo xốp

Theo cấu tạo chất dẻo xốp được chia làm 3 nhóm : xốp bọt, xốp khí và xốp tổ ong. Loại chất dẻo xốp bọt và xốp tổ ong không những là VLCN mà còn là vật liệu chịu lực. Chất dẻo xốp khí và xốp tổ ong có thể chế tạobằng 2 phương pháp : ép và không ép. Trong phương pháp ép thì hỗn hợp bột polime nghiền mịn, chất tạo khí và các phụ gia khác được[…]

Chất dẻo xốp vật liệu cách nhiệt

Theo khối lượng thể tích tấm fibrôlit được chia ra 4 mác 1100, 350, 400 và 500 với cường độ tương ứng là 4, 5, 7 và 12 k0/cm2, hệ số dẫn nhiệt 0,078 – 0,13 kCal/m.°C.h, độ hút nước kliAng lớn hơn 20% và kích thước : dài 2000 – 2400 rộng 500 t r>50 và dày 50, 75, 100mm. Tấm fibrôlit được sử dụng làm vật liệu cách nhiệt, chịu lực rách nhiệt và cách âm cho tường,[…]

Sản phẩm than bùn cách nhiệt

Sản phẩm sản xuất ở dạng tấm, vỏ hình quạt và sử dvmẩ cho các kết cấu bao che nhà cấp III, bể mặt các thiết bị cOnfl nghiệp, đường ống dẫn khi nhiệt độ từ – 60°c đến 100( Nguyên liệu để sản xuất sản phẩm loại này là loại than liUn tấng trên, ít bị phân rã và có cấu tạo sợi thuận tiện cho vlệ« chế tạo sản phẩm ép có chất lượng cao. Tấm có kích[…]

Mức độ liên kết của bitum

Lực liên kết hóa học lớn hơn rất. nhiều so với lực liên kết lí học, do đó khi bitum tưng tác hóa học với vật liệu khoáng thì cường độ liên kết sẽ lớn nhất. Liên kết của bitum với vật liệu khoáng trước hết phụ thuộc vào tính chất của bitum. Bitum có sức căng bể mặt càng lớn, nghĩa là ctí độ phân cực càng lớn, thì liên kết với vật liệu khoáng càng tốt. Độ phân[…]

Tính ổn định của bitum dầu mỏ

Tính ổn định khi đun Khi dùng bitum người ta thường phải đun nóng nó lên đến nhiệt độ 160°c trong thời gian khá dài, do đó các thành phấn dấu nhẹ có thể bốc hơi, làm thay đổi tính chất của bitum. Các loại bitum dầu mỏ loại quánh sau thí nghiệm này phải có hao hụt trọng lượng không được lớn hơn 1%, độ kim lún và độ kéo dài thay đổi không được lớn hơn 40% so[…]

Đánh giá chất lượng của bitum

Vì vậy, nhiệt độ hóa mém cũng là một chỉ tiêu kĩ thuật, để đánh giá chất lượng của bitum. Nhiệt độ hóa mềm của bitum được xác định bàng dụng cụ vòng và bi (hỉnh 12.4). Khối lượng của viên bi bằng 3,5g, đường kính 9,53mm, còn Để xác định nhiệt độ hóa mềm người ta đun nóng bình chứa chất lỏng (thường là nước) với tốc độ 5°c/phút. Dưới tác dụng của nhiệt độ tăng dẩn, đến một[…]

Bitum dầu mỏ trong xây dựng

Khi nhiệt độ thay đổi, tính quánh, tính dẻo của bitum thay ilrii. Sự thay đổi đó càng nhỏ, bitum cđ tính ổn định nhiệt độ ri g cao. Tính Ổn định nhiệt của bitum phụ thuộc vào thành phần hđa hoe của nó. Khi hàm lượng nhóm atfan tăng, tính ổn định nhiệt của bitum tăng, hàm lượng nhóm atfan giảm tính chất này giảm xuống. Bước chuyển của bitum từ trạng thái rán sang trạng thái quánh rồi[…]

Thành phần của bitum dẩu mỏ

Tính chất của bitum phụ thuộc vào thành phần và tính chất của hỗn hợp các nhóm cấu tạo hóa học. Dựa vào nhóm cấu tạo hóa học có thể chia bitum dầu mỏ thành 3 loại. Bitum loại 1: nhóm atfan >25%, nhựa < 24% và dung dịch cacbon > 50%. Bitum loại 2 có hàm lượng nhóm cấu tạo hóa học tương ứng : £ 18%; > 36% và 48%. Bitum loại 3 có các nhóm cấu tạo[…]

Atfan trong bitum dầu mỏ

Atfan có thể hòa tan trong clorofooc, têtraclorua cacbon (CC14), không hòa tan trong ête, dầu hỏa và axêtôn (C3H5OH). Tính quánh và sự biến đổi tính chất theo nhiệt độ của bitum phụ thuộc chủ yếu vào nhóm này. Hàm lượng nhóm atfan tăng lên thì tính quánh, nhiệt độ hóa mềm của bitum cũng tăng lên. Hàm lượng của nhóm atfan trong bitum vào khoảng 10 – 38%. Nhóm cacben và cacbốit. Tính chất của cacben gần giống[…]

Các loại bitum dầu mỏ

Bitum dầu mỏ là một hỗn hợp phức tạp của các hợp chất hiđrocácbon (metan, naftalen, các loại mạch vòng) và một sổ dẫn xuất phi kim loại khác. Nđ cđ màu đen, hòa tan được trong benzen (C6H6), clorofooc (CHC13), disunfuacacbon (CS2) và một số dung môi hữu cơ khác. Thành phần hóa học của bitum dẩu mỏ như sau : c = 82 – 88% ; s = 0 – 6% ; N = 0,5 – 1%; H[…]

Chế tạo và lắp ráp động cơ phản lực

BẠN CÓ BIẾT? Chế tạo và lắp ráp một động cơ phản lực phải mất khoảng hai năm, bởi vì nó có quá nhiều bộ phận. Ví dụ, một động cơ tiêu chuẩn của máy bay Boeing 747 bao gồm gần 25.000 bộ phận. Một động cơ phản lực được lắp ráp theo tư thế thẳng đứng từ phía sau hướng về phía trước trên một giá gắn cố định, để cho phép người lắp ráp dễ dàng thao tác[…]

Kiểm tra hoàn tất sản xuất may bay trc khi đưa vào hoạt động

Khi việc sản xuất bắt đầu với một động cơ Chất lượng m5i được thiết kế, mẫu đầu tiên được ấn định như một thử nghiệm chất lượng động cơ. Nhiều thí nghiệm được tiến hành để thử phản ứng của nó với các tình huống khác nhau mà động cơ sẽ đương đầu trong vòng đời phục vụ của nó. Các tình huông này bao gồm các điều kiện thời tiết cực hạn, các mảnh vụn trên không (chẳng[…]

Hệ thống xả khí máy bay

Ống dẫn khí trong và buồng đốt thêm phía sau (một loại buồng đốt trong đó nhiên liệu được phun rhêm vào để đốt phía sau ống xả ở phần nóng và còn giàu oxy) được đổ khuôn từ titan, trong khi ống dẫn khí ngoài và vỏ thùng treo động cơ được làm băng Keviar. Sau khi ba thành phần này đã được hàn với nhau thành một cơ cấu con, toàn bộ động cơ sẵn sàng được ráp[…]

Cấu tạo buồng đốt máy bay, trực thăng

Buông đốt 5. Buồng đốt phải trộn không khí và nhiên liệu trong khoảng không gian nhỏ hẹp và hoạt động trong các chu kỳ kéo dài với nhiệt độ cao. Để đáp ứng yêu cầu này, buồng đôt được làm từ hợp kim titan. Trước tiên, hợp kim được nấu chảy rồi rót vào một số đoạn khuôn phức hợp. Các phần lấy ra từ khuôn được để nguội, sau đó hàn lại với nhau trước khi được lắp[…]

Hệ thống máy nén khí trong trực thăng

Hệ thống xả Hệ thông xả gồm một ống dẫn khí ngoài và một ống dẫn khí trong hẹp hơn. Ông dẫn khí ngoài truyền không khí mát đã đi qua dọc theo bên ngoài buồng đốt. Õng dẫn khí trong hẹp hơn mang khí đốt đã được bơm qua buồng đốt. Giữa hai ống này là một cơ cấu thổi ngược, thiết bị cơ khí này đặt ở đuôi ống xả của động cơ, nhằm ngăn ngừa không khí[…]

Sự ra đời của trực thăng phản lực

Hãng McDonnell Douglas đã chế tạo một loại trực thăng không có rôto đuôi, được biết dưới tên gọi NOTAR (No Tail Rotor). Thay vào đó là một ống dẫn khí (và cũng là đuôi trực thăng) do tuabin bên trong phụt ra, nhờ đó loại bỏ được sự chuyển động cơ học về phía sau rất nguy hiểm do rôto đuôi gây ra và giảm tiếng ồn đáng kể. M.D. Explorer là trực thăng đầu tiên có hệ thống[…]

Quá trình sản xuất trực thăng phản lực

Quá trình Kết cấu trực thăng: chuẩn bị hệ thống ống san xual J kộ phận dạng ống riêng rẽ được cắt bằng máy cắt ống, máy này có thể nhanh chóng điều chỉnh kích cỡ khác nhau để tạo ra các số lượng và độ dài chính xác. Hệ thống ống phải được tạo hình phù hợp với góc trong máy uốn sử dụng các công cụ dễ hoán đổi cho các đường kính và kích cỡ khác nhau.[…]